Nội dung chính · Bài 4 · Đọc hiểu N1

Sự thay đổi của 'món ăn mẹ nấu'

おふくろのあじ変遷へんせん · Nội dung chính
かい Hướng dẫn cách làm
Nội dung chính

Bài này yêu cầu tìm ý chính phù hợp nhất với toàn bộ đoạn văn. Cần đọc kỹ từng đoạn để nắm bắt luận điểm của tác giả.

Trình tự làm bài
  1. Đọc lướt toàn bộ đoạn văn để nắm ý tổng quát.
  2. Xác định chủ đề chính và luận điểm của tác giả về chủ đề đó.
  3. Đọc kỹ từng lựa chọn, so sánh với nội dung đoạn văn.
  4. Loại bỏ các lựa chọn sai, thiếu hoặc chỉ đúng một phần.
Lưu ý
  • Cẩn thận với các lựa chọn chỉ đề cập đến một chi tiết nhỏ trong bài mà không phải là ý chính.
  • Tránh các lựa chọn đưa ra thông tin không có trong bài hoặc trái ngược với bài.

いつのくにからおふくろのあじ、という言葉ことばをたぶん男性だんせいたちがつくり、その郷愁きょうしゅうにこたえてそういうみせもでき、ものめずらしさにおんなわたくしいくかのぞいてみると、なんのこととはない里芋さといもとこんにゃく、ひじきと油揚あぶらあげの煮付につけ、ナッパのおひたしなどのことなのである。 。これにはむかしおのれがごく常識じょうしきてき惣菜そうざい(ちゅう1)であって、なん母親ははおやかぎらずとなりのおばさんでもうちの下手へたでも手軽てがるつくったり、またまちのおかずにもならべられていたりしたもので、いまだってちょいとくちうるさいげん女房にょうぼうたのめばいえでもすぐべられる料理りょうりのことではないか。 。ただ、おなじであっても、わたくしにいわせてもらえばいまのこれらの料理りょうり素材そざいは、郷愁きょうしゅうのなかのむかしあじとはなるもの、というべく。だいいち野菜やさいあじからしてまった別物べつものなのである。せんはどこかのいえでも野菜やさいをたくさんべたいし、需要じゅようとともにあじ注文ちゅうもんおおければ、農家のうか美味おいしい野菜やさいつくりに情熱じょうねつめたものだった。(中略ちゅうりゃく) )ところで、男性だんせいがおふくろのあじにあこがれる原因げんいんに、主婦しゅふ家事かじ手抜てぬきと子供こども中心ちゅうしん献立こんだてがいわれるが、わたくしもその手抜てぬ主婦しゅふ一人ひとりとしていわせていただくと、味覚みかくというのは遺伝いでんてきかつ身体しんたいてきなものとはいえないだろうか。つまり生活せいかつ全般ぜんぱん現代げんだい密着みっちゃくしている人間にんげんくちうものといえばぜんたい現代げんだい味覚みかくであって、いまはもうないものねだりともいえるむかしあじではないのである。 。おふくろのあじムードに付き合つきあって、漂白ひょうはく(ちゅう2)のためのかわかたくなりあじうしなった里芋さといもを、全国ぜんこく画一かくいつのだしのもと使つかってころがししてみたところで味気あじけなさをみしめるばかり。

宮尾みやお登美子とみこ『もうひとつの出会であい』新潮しんちょうしゃ

Từ khi nào mà đàn ông trên thế giới đã tạo ra cụm từ "món ăn mẹ nấu" (おふくろのあじ), và để đáp lại nỗi hoài niệm đó, những nhà hàng như vậy cũng xuất hiện. Khi tôi, một người phụ nữ, tò mò ghé vào vài lần, thì thấy chẳng có gì đặc biệt ngoài khoai môn, konjac, hijiki và đậu phụ chiên kho, rau luộc trộn...

Những món này ngày xưa là những món ăn kèm (惣菜そうざい) rất đỗi bình thường, không chỉ mẹ mà bất kỳ bà hàng xóm nào, hay thậm chí người vụng về ở nhà cũng có thể dễ dàng làm, hoặc chúng được bày bán ở các cửa hàng đồ ăn sẵn trong phố. Ngay cả bây giờ, nếu bạn nhờ người vợ hơi cằn nhằn của mình, chẳng phải đó cũng là những món ăn có thể làm ngay tại nhà sao?

Tuy nhiên, dù bề ngoài có giống nhau, nhưng theo tôi, nguyên liệu của những món ăn ngày nay khác hẳn với hương vị xưa cũ trong nỗi hoài niệm. Trước hết, hương vị của rau củ đã hoàn toàn khác. Ở những vùng bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, mọi nhà đều muốn ăn nhiều rau, và cùng với nhu cầu đó, yêu cầu về hương vị cũng tăng lên, khiến nông dân cũng dồn tâm huyết vào việc trồng rau ngon. (Lược bỏ)

Nhân tiện, người ta nói rằng nguyên nhân đàn ông khao khát "món ăn mẹ nấu" là do các bà nội trợ lơ là việc nhà và thực đơn tập trung vào trẻ con. Nhưng nếu tôi, một trong những bà nội trợ "lơ là" đó, được phép nói, thì vị giác chẳng phải là thứ mang tính di truyền và thể chất sao? Nói cách khác, những gì phù hợp với khẩu vị con người gắn liền với cuộc sống nói chung, với thời hiện đại, chính là vị giác hiện đại, chứ không phải là hương vị xưa cũ đã không còn tồn tại, giống như đòi hỏi một điều không thể.

Nếu cứ chạy theo cái "tâm trạng món ăn mẹ nấu" mà thử kho khoai môn đã bị cứng vỏ và mất vị do tẩy trắng (漂白ひょうはく), dùng bột nêm dashi chuẩn hóa toàn quốc, thì chỉ còn lại cảm giác nhạt nhẽo mà thôi.

TừCách đọcNghĩa
おふくろのあじおふくろのあじmón ăn mẹ nấu, hương vị quê nhà
郷愁きょうしゅうきょうしゅうnỗi nhớ nhà, hoài niệm
ものめずらしさものめずらしさsự tò mò, lạ lẫm
のぞくのぞくnhìn trộm, ghé vào
なんのこととはないなんのこととはないchẳng có gì đặc biệt, chỉ là
里芋さといもさといもkhoai môn
こんにゃくこんにゃくkonjac (thạch khoai nưa)
ひじきひじきrong biển hijiki
油揚あぶらああぶらあげđậu phụ chiên
煮付につにつけmón kho, món hầm
ナッパナッパrau xanh, rau lá
おひたしおひたしrau luộc trộn nước tương
惣菜そうざいそうざいmón ăn kèm, đồ ăn sẵn
くちうるさいくちうるさいhay cằn nhằn, lắm lời
女房にょうぼうにょうぼうvợ (cách gọi cũ/thân mật)
なるにてひなるtưởng giống mà khác, bề ngoài giống nhưng bản chất khác
あこがれるあこがれるkhao khát, ngưỡng mộ
手抜てぬてぬきlàm qua loa, lơ là
献立こんだてこんだてthực đơn
遺伝いでんてきいでんてきmang tính di truyền
身体しんたいてきしんたいてきmang tính thể chất
密着みっちゃくするみっちゃくするgắn liền, gắn bó chặt chẽ
ものねだりものねだりđòi hỏi điều không thể, vòi vĩnh
ムードムードtâm trạng, không khí
漂白ひょうはくひょうはくtẩy trắng
全国ぜんこく画一かくいつぜんこくかくいちtiêu chuẩn hóa toàn quốc
だしのもとだしの もとbột nêm dashi
ころがすにころがすkho cạn nước (thường với rau củ)
味気あじけないあじけないnhạt nhẽo, vô vị
みしめるかみしめるnhai kỹ, cảm nhận sâu sắc (ở đây là cảm nhận sự nhạt nhẽo)
もん

Câu hỏi đọc hiểuBấm vào đáp án để chấm — đúng xanh, sai đỏ

1.この文章ぶんしょう内容ないようとしてもっと適切てきせつなものはどれか。
Nội dung phù hợp nhất với đoạn văn này là gì?
おふくろのあじといえば里芋さといも料理りょうりだが、いま里芋さといもむかし里芋さといもよりあじうすくて美味おいしくない。Nói đến món ăn mẹ nấu là món khoai môn, nhưng khoai môn bây giờ nhạt và không ngon bằng khoai môn ngày xưa.
おふくろのあじむかし時代じだいのもので、現代げんだいにんはそれをものめずらしくかんじているだけである。Món ăn mẹ nấu là của thời xưa, người hiện đại chỉ cảm thấy nó lạ lẫm mà thôi.
男性だんせいはおふくろのあじなつかしむが、おな料理りょうりつくってもいまむかしおなあじにはならない。Đàn ông hoài niệm món ăn mẹ nấu, nhưng dù làm cùng món ăn đó thì bây giờ cũng không còn hương vị như xưa.
むかしくらべて、いま料理りょうり美味おいしくないのは、主婦しゅふ手抜てぬきをしているからである。So với ngày xưa, món ăn bây giờ không ngon là vì các bà nội trợ làm qua loa.
③ Đáp án đúng

Phân tích các lựa chọn:

1.

Lựa chọn này chỉ tập trung vào món khoai môn, một ví dụ cụ thể trong bài, chứ không phải là ý chính bao quát toàn bộ đoạn văn.

Đoạn văn nói về sự thay đổi hương vị tổng thể của "món ăn mẹ nấu", không chỉ riêng khoai môn.

2. Lựa chọn này nói rằng người hiện đại "chỉ cảm thấy lạ lẫm".

Tuy nhiên, đoạn văn chỉ ra rằng đàn ông "khao khát" món ăn mẹ nấu (có nỗi hoài niệm), và tác giả (một người phụ nữ) mới là người "tò mò ghé vào".

Hơn nữa, việc "chỉ cảm thấy lạ lẫm" không phản ánh đúng sự phức tạp của vấn đề hương vị đã thay đổi.

3.

Lựa chọn này phản ánh đúng luận điểm chính của tác giả.

Đoạn văn bắt đầu bằng việc đàn ông hoài niệm "món ăn mẹ nấu".

Sau đó, tác giả giải thích rằng dù bề ngoài giống nhau, nhưng nguyên liệu và hương vị đã thay đổi (đoạn 3), và vị giác hiện đại cũng khác (đoạn 4), nên không thể có được hương vị như xưa (đoạn 5).

Đây là ý bao quát và chính xác nhất.

4. Lựa chọn này đưa ra lý do "các bà nội trợ làm qua loa" là nguyên nhân món ăn không ngon.

Tuy nhiên, đoạn văn chỉ đề cập đây là một trong những lý do mà "người ta nói" (いわれるが), nhưng tác giả đã phản bác lại quan điểm này, cho rằng vị giác là thứ mang tính di truyền và thể chất, và hương vị xưa đã không còn tồn tại.

Do đó, đây là một sự hiểu sai ý của tác giả.

⚠(đáp án Gemini tự suy luận — nên kiểm lại)