Dạng bài này yêu cầu tìm ra nguyên nhân hoặc lý do cho một sự việc, hành động được đề cập trong đoạn văn.
- Đọc kỹ câu hỏi để xác định sự việc cần tìm lý do.
- Tìm trong đoạn văn những câu có chứa từ khóa liên quan đến sự việc đó hoặc các từ chỉ nguyên nhân, kết quả (vì, do, nên, bởi vậy...).
- Đối chiếu các lựa chọn với thông tin trong bài để tìm ra lý do chính xác nhất.
- Cẩn thận với các lựa chọn chỉ là miêu tả sự việc chứ không phải lý do.
- Đôi khi lý do không được nêu trực tiếp mà phải suy luận từ ngữ cảnh.
友人三人で能登半島めぐりをやり、金沢にも立ち寄った。
このときのことば、ほかにも書いたが、兼六園の池のほとりでお弁当を食べているときに、大きな白鳥が泳ぎながら、上陸して、ガアガア、グググと、品の悪い声を上げて、餌をよこせと催促する。知らん顔をして食べていると、隣で私たちの豚小僧を突つく。
癇癪うるさいので、食べかけをほうってやると、飛びつくようにして食べる。
エビの尻っぽ。お多福豆の皮。投げてやって食べないものはひとつもなかった。
その食べかたの品のなことといったらたい。そう思ってみるせいか、顔つきにも品というものがない。目つきも鋭い。何よりびっくりしたことは、上半身は、たしかに美しくバレリーナの如く優雅なのだが、下半身は労働者もかくやというほど、妙にたくましいことである。
食べ終ってもうキョロキョロとあたりを見廻し、二、三度、私たちの豚小僧を突つき、もう無いと見ると、池にもどっていった。
スーと音もなく水面を滑ってゆく姿は、まぎれもなく美しい白鳥で、私はその二重人格(?)に感心して眺めていた。
Tôi và hai người bạn đã đi du lịch quanh bán đảo Noto và và ghé thăm Kanazawa.
Chuyện này tôi cũng đã viết ở nơi khác, nhưng khi chúng tôi đang ăn bento bên bờ ao ở Kenrokuen, một con cò trắng lớn bơi đến, lên bờ, kêu 'gaa gaa, gugugu' với giọng thô lỗ, giục chúng tôi cho ăn. Khi chúng tôi giả vờ không biết và tiếp tục ăn, nó mổ vào miếng thức ăn của chúng tôi ở bên cạnh.
Vì nó quá khó chịu, chúng tôi đành vứt đồ ăn dở cho nó, và nó lao vào ăn ngấu nghiến.
Đuôi tôm. Vỏ đậu Otafuku. Không có thứ gì chúng tôi ném ra mà nó không ăn.
Cách ăn đó thật là thô lỗ. Có lẽ vì nghĩ vậy mà khuôn mặt nó cũng chẳng có vẻ gì là thanh lịch. Ánh mắt cũng sắc bén. Điều làm tôi ngạc nhiên nhất là, phần thân trên của nó chắc chắn duyên dáng như một vũ công ballet xinh đẹp, nhưng phần thân dưới lại khỏe mạnh một cách kỳ lạ, đến mức có thể sánh với một người lao động.
Sau khi ăn xong, nó lại nhìn quanh quất, mổ vào miếng thức ăn của chúng tôi thêm hai ba lần nữa, rồi khi thấy không còn gì, nó quay trở lại ao.
Dáng vẻ nó lướt trên mặt nước không một tiếng động thực sự là một con cò trắng xinh đẹp, và tôi đã ngưỡng mộ nó với cái tính cách 'hai mặt' (?).
| Từ | Cách đọc | Nghĩa |
|---|---|---|
| 能登半島 | のとはんとう | bán đảo Noto |
| 立ち寄る | たちよる | ghé qua |
| 兼六園 | けんろくえん | Kenrokuen (tên một khu vườn) |
| 池のほとり | いけのほとり | bờ ao |
| お弁当 | おべんとう | cơm hộp, bento |
| 白鳥 | はくちょう | cò trắng (hoặc thiên nga) |
| 上陸する | じょうりくする | lên bờ |
| 品の悪い | ひんのわるい | thô lỗ, kém duyên |
| 催促する | さいそくする | giục giã, thúc giục |
| 知らん顔をする | しらんかおをする | giả vờ không biết |
| 豚小僧 | ぶたこぞう | miếng thức ăn (bị chim mổ) |
| 突つく | つつく | mổ, chọc |
| 癇癪うるさい | かんしゃくうるさい | khó chịu, hay cáu kỉnh |
| 食べかけ | たべかけ | đồ ăn dở |
| ほうってやる | ほうってやる | vứt đi, bỏ đi |
| 飛びつく | とびつく | lao vào, vồ lấy |
| エビの尻っぽ | えびのしっぽ | đuôi tôm |
| お多福豆 | おたふくまめ | đậu Otafuku (một loại đậu lớn) |
| 品のな | ひんのな | sự thô lỗ, kém duyên |
| 顔つき | かおつき | vẻ mặt, nét mặt |
| 目つき | めつき | ánh mắt |
| 鋭い | するどい | sắc bén |
| 上半身 | じょうはんしん | phần thân trên |
| バレリーナ | ばれりーな | vũ công ballet |
| 如く | ごとく | như là, giống như |
| 優雅な | ゆうがな | duyên dáng, thanh lịch |
| 下半身 | かはんしん | phần thân dưới |
| 労働者 | ろうどうしゃ | người lao động |
| かくや | かくや | như là, đến mức |
| たくましい | たくましい | khỏe mạnh, vạm vỡ |
| キョロキョロと見廻す | きょろきょろとみまわす | nhìn quanh quất |
| 音もなく | おともなく | không tiếng động |
| 水面 | すいめん | mặt nước |
| 滑ってゆく | すべってゆく | lướt đi |
| まぎれもなく | まぎれもなく | không thể nhầm lẫn, rõ ràng là |
| 二重人格 | にじゅうじんかく | hai nhân cách, tính cách hai mặt |
| 感心する | かんしんする | ngưỡng mộ, khâm phục |
| 眺める | ながめる | ngắm nhìn |
Câu hỏi đọc hiểuBấm vào đáp án để chấm — đúng xanh, sai đỏ
Đáp án đúng là 1.
- **
Đáp án 1:** Đúng.
Đoạn văn nói rõ "何よりびっくりしたことは、上半身は、たしかに美しくバレリーナの如く優雅なのだが、下半身は労働者もかくやというほど、妙にたくましいことである。" (Điều làm tôi ngạc nhiên nhất là, phần thân trên của nó chắc chắn duyên dáng như một vũ công ballet xinh đẹp, nhưng phần thân dưới lại khỏe mạnh một cách kỳ lạ, đến mức có thể sánh với một người lao động.) Điều này khớp với vế đầu của đáp án.
Ngoài ra, tác giả cũng nhận xét "その食べかたの品のなことといったらたい" (cách ăn đó thật là thô lỗ), cho thấy hành vi của nó cũng kém duyên.
Sự kết hợp giữa vẻ ngoài đối lập và hành vi kém duyên đã tạo nên "tính cách hai mặt" khiến tác giả ngạc nhiên.
- **
Đáp án 2:** Sai.
Đoạn văn nói nó kêu "ガアガア、グググ" (phát ra tiếng) khi đòi ăn, và "スーと音もなく水面を滑ってゆく" (lướt đi không tiếng động) khi quay về ao.
Hai điều này không phải là một sự đối lập gây ngạc nhiên như đáp án nói.
- **
Đáp án 3:** Sai.
Việc cò trắng muốn đồ ăn của con người và lên bờ là một sự việc được kể, nhưng không phải là điều "làm tác giả ngạc nhiên nhất" (何よりびっくりしたこと) theo như đoạn văn đã chỉ rõ.
- **
Đáp án 4:** Sai.
Việc cò trắng thô bạo đòi ăn khi tác giả giả vờ không biết là một hành vi kém duyên, nhưng không phải là điều "làm tác giả ngạc nhiên nhất" mà đoạn văn đã nhấn mạnh.
⚠(đáp án Gemini tự suy luận — nên kiểm lại)