THỰC HÀNH · TRÍ LỮ TỰ SOẠN
Viết, nhận mã lỗi, rồi sửa
Bài luyện dành cho mạch HSG Quốc gia của Trí Lữ; không phải đề, thang điểm hay chuẩn chính thức. Giáo viên nhận xét, máy không chấm bài.
題:「SNS は若者にとって良いものか、悪いものか。あなたの考えを述べなさい。」
Đề: Mạng xã hội là tốt hay xấu đối với người trẻ? Hãy nêu suy nghĩ của bạn.
近年、SNS は若者の生活に欠かせないものとなっている。SNS が若者に悪影響を与えると言う人も多い。しかし、私は SNS は使い方次第で若者にとって有益なものになると考える。
確かに、SNS には依存やいじめといった問題がある。長時間の利用が勉強の妨げになることも事実だ。しかし、それは SNS そのものの問題ではなく、使い方の問題である。なぜなら、SNS は本来、人と人をつなぐ道具にすぎないからだ。たとえば、遠くに住む友人と気軽に連絡を取り合えるだけでなく、同じ目標を持つ仲間と出会うこともできる。さらに、世界中の最新の情報に触れることで、視野を広げることも可能だ。
したがって、大切なのは SNS を禁止することではなく、正しい使い方を学ぶことである。若者自身が利用の時間や目的を意識すれば、SNS は学びと成長を支える有力な手段になると私は考える。
Dịch ý: Gần đây SNS đã trở thành thứ không thể thiếu trong đời sống người trẻ. Nhiều người nói SNS gây ảnh hưởng xấu, nhưng tôi cho rằng tùy cách dùng, SNS có thể trở nên hữu ích. Đúng là SNS có những vấn đề như nghiện và bắt nạt, dùng lâu cũng cản trở học tập. Nhưng đó không phải lỗi của SNS mà là lỗi ở cách dùng, bởi SNS vốn chỉ là công cụ kết nối con người: ta có thể dễ dàng liên lạc với bạn ở xa, gặp gỡ những người cùng mục tiêu, và mở rộng tầm nhìn nhờ tiếp cận thông tin toàn cầu. Do đó, điều quan trọng không phải là cấm SNS mà là học cách dùng đúng. Nếu bản thân người trẻ ý thức về thời gian và mục đích sử dụng, SNS sẽ là phương tiện hữu hiệu hỗ trợ việc học và sự trưởng thành.
題:「子どものうちから外国語を学ぶべきだという意見について、あなたの考えを述べなさい。」
Đề: Nêu suy nghĩ của bạn về ý kiến cho rằng nên học ngoại ngữ ngay từ khi còn nhỏ.
グローバル化が進む現代において、外国語を学ぶ重要性はますます高まっている。子どものうちから外国語を学ぶべきだという意見に対して、私は基本的に賛成である。
なぜなら、幼い時期は言語を吸収する能力が非常に高いからだ。たとえば、子どもは文法を意識しなくても、自然に発音や表現を身につけることができる。また、早くから異なる文化に触れることで、多様な価値観を受け入れる柔軟な心も育つ。一方で、母語がまだ十分に発達していない段階で外国語を学ばせると、かえって混乱を招くという指摘もある。確かにその懸念は無視できない。しかし、母語と外国語をバランスよく学べば、両方を伸ばすことは十分に可能である。
以上のことから、適切な方法であれば、子どものうちから外国語を学ぶことには大きな意義があると私は考える。重要なのは、年齢ではなく学び方そのものではないだろうか。
Dịch ý: Trong thời đại toàn cầu hóa, tầm quan trọng của việc học ngoại ngữ ngày càng tăng. Với ý kiến cho rằng nên học ngoại ngữ từ nhỏ, về cơ bản tôi tán thành. Bởi vì giai đoạn còn nhỏ có khả năng hấp thụ ngôn ngữ rất cao: trẻ có thể tự nhiên nắm được cách phát âm và cách diễn đạt mà không cần ý thức về ngữ pháp; tiếp xúc sớm với văn hóa khác còn nuôi dưỡng tâm hồn linh hoạt, biết chấp nhận các giá trị đa dạng. Mặt khác, cũng có ý kiến cho rằng học ngoại ngữ khi tiếng mẹ đẻ chưa phát triển đủ sẽ gây rối loạn. Đúng là không thể bỏ qua lo ngại đó, nhưng nếu học cân bằng cả hai thì hoàn toàn có thể phát triển song song. Từ những điều trên, tôi cho rằng nếu có phương pháp phù hợp thì việc học ngoại ngữ từ nhỏ có ý nghĩa rất lớn. Điều quan trọng chẳng phải là độ tuổi mà chính là cách học, phải vậy không?
題:「便利な生活を続けながら、環境を守ることはできるか。あなたの考えを述べなさい。」
Đề: Vừa duy trì cuộc sống tiện lợi vừa bảo vệ môi trường — điều đó có khả thi không? Hãy nêu suy nghĩ của bạn.
現代社会は便利さを追求するあまり、環境に大きな負担をかけてきた。便利さと環境保護は両立できないと考える人もいる。しかし、私は両者を両立させることは可能だと考える。
確かに、大量生産や使い捨て文化は環境を破壊する一因となってきた。だが、技術の進歩はその解決にも役立っている。たとえば、再生可能エネルギーや電気自動車の普及によって、生活の質を落とさずに環境への負荷を減らすことができる。さらに、一人ひとりが意識を変え、無駄を減らす工夫をすれば、その効果は決して小さくない。重要なのは、便利さを完全に捨てることではなく、持続可能な形で利用することである。
したがって、技術と意識の両面から取り組めば、便利な生活と環境保護は十分に両立できると私は考える。未来の世代に豊かな自然を残すために、今こそ行動を始めるべきではないだろうか。
Dịch ý: Xã hội hiện đại vì quá theo đuổi sự tiện lợi mà đã đặt gánh nặng lớn lên môi trường. Có người cho rằng tiện lợi và bảo vệ môi trường không thể song hành. Nhưng tôi cho rằng có thể dung hòa cả hai. Đúng là sản xuất hàng loạt và văn hóa dùng một lần đã góp phần phá hoại môi trường. Song, tiến bộ công nghệ cũng giúp giải quyết điều đó: nhờ phổ biến năng lượng tái tạo và xe điện, ta có thể giảm tác động lên môi trường mà không hạ thấp chất lượng sống; hơn nữa, nếu mỗi người thay đổi ý thức và tìm cách giảm lãng phí thì hiệu quả không hề nhỏ. Điều quan trọng không phải là từ bỏ hoàn toàn sự tiện lợi mà là sử dụng nó theo cách bền vững. Do đó, nếu cùng lúc nỗ lực ở cả hai phương diện công nghệ và ý thức, cuộc sống tiện lợi và bảo vệ môi trường hoàn toàn có thể song hành. Để giữ lại thiên nhiên trù phú cho thế hệ tương lai, chẳng phải bây giờ chính là lúc nên bắt đầu hành động hay sao?
THỰC HÀNH · TRÍ LỮ TỰ SOẠN
Bài luyện dành cho mạch HSG Quốc gia của Trí Lữ; không phải đề, thang điểm hay chuẩn chính thức. Giáo viên nhận xét, máy không chấm bài.
Một khung thường dùng cho bài nghị luận gồm ba phần: 序論 (mở bài), 本論 (thân bài) và 結論 (kết bài). Mỗi phần có một nhiệm vụ: nêu luận điểm, phát triển lí do và kết luận.
Giới thiệu chủ đề, làm rõ vấn đề bàn luận và nêu luận điểm (主張) của mình. Chiếm ~15–20% bài.
Đưa lý do, dẫn chứng cụ thể; thừa nhận ý kiến trái chiều rồi phản bác. Chiếm ~60–70% bài.
Tóm tắt lập luận và nhắc lại luận điểm một cách dứt khoát, có thể mở rộng. Chiếm ~15%.
Từ nối (接続詞・接続表現) là "khớp nối" làm cho lập luận trôi chảy. Dưới đây là các nhóm thiết yếu cho bài luận N2–N1.
Một đoạn 本論 thuyết phục thường đi theo công thức bốn bước. Mở từng mục để xem mẫu câu.
Mở đoạn bằng một câu khẳng định rõ ràng để người đọc biết ngay bạn đứng ở đâu. Tránh nói nửa vời.
Mỗi luận điểm cần ít nhất một lý do và một dẫn chứng cụ thể: trải nghiệm bản thân, hiện tượng xã hội, so sánh. Dùng なぜなら〜からだ và たとえば.
Điểm tạo nên bài luận trình độ cao: dám nêu ý kiến trái chiều rồi bác lại. Đây chính là chỗ dùng 確かに〜しかし.
Kết bài nhắc lại luận điểm một cách dứt khoát, dùng したがって / 以上のことから. Tránh đưa ý mới ở phần này.
Dùng 常体 (thể だ・である): bài luận học thuật viết ở văn nói trống だ/である, KHÔNG dùng です・ます. Ví dụ: 〜である・〜だ・〜と考える.
Tránh chủ quan thái quá: hạn chế とても・すごく; thay bằng 非常に・極めて.
Đếm chữ: đề HSG thường yêu cầu khoảng 300–600 chữ — phải canh độ dài, đủ ba phần.
Viết tay một bài 300 chữ theo bố cục 序論・本論・結論, rồi chuyển sang luyện thuyết trình và phản biện để hoàn thiện cả hai ngày thi.